bal5

Tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, có hình thái không biến đổi.
Ngôn ngữ trên thế giới, chính thức được chia làm 4 loại hình: ngôn ngữ hòa kết (khuất chiết), chắp đính (niêm kết), hỗn nhập (đa dạng), ngôn ngữ đơn lập. Trong đó, tiếng Việt là thứ ngôn ngữ đơn lập, thể hiện ở ngữ âm, từ vựng và ngữ pháp.

+ Ngữ âm: đơn vị mà tiếng Việt gọi là “tiếng”, “chữ” như: đi, ăn, học, nói… bởi nó căn cứ vào ngữ âm, văn tự hình thành và phiên âm của tiếng đó.
– Mỗi tiếng bao giờ cũng được phát ra bởi một hơi và tương ứng với mỗi lần tăng, giảm tốc độ nói và âm thành thì mang một âm điệu khác nhau.
– Chữ viết: Với những người học tiếng Việt thì khi đứng trước một câu văn, thơ muốn xác định tiếng trong câu đó là điều hết sức dễ dàng.
– Về âm vị học của một tiếng: âm vị trong tiếng Việt cực kì phòng phú và cân đối. Trong Tiếng Việt có 5 hệ thống âm vị: âm đầu, âm đệm, âm chính, âm cuối và thanh điệu. Số lượng âm vị nhiều hơn là cho tiếng Việt có phần phức tạp hơn nhưng cấu trúc âm tiết lại ổn định nên cấu trúc nội bộ của tiếng Việt khá rõ ràng khiến cho người học tiếng Việt và học tiếng Việt đánh vần, ghép vần và nhận diện âm tiết một cách dễ dàng.
– Cấu tạo ngữ âm của âm tiết giúp tạo nên nhạc điệu cho câu thơ và câu văn trong tiếng Việt. Khi tạo ra một câu, người Việt thường để ý đến sự hài hòa về ngữ âm, tạo nên sự dễ nghe, trầm bổng, nhịp nhàng. Sự phối hợp của các âm đầu, vần, thanh điệu của các âm tiết trong câu tạo nên câu văn trôi chảy, êm ái.
+ Từ vựng và ngữ pháp
– Đơn vị cơ sở để tạo thành từ trong tiêng Việt là tiếng – đơn vị dễ nhận biết nhất.
– Trong ngôn ngữ tiếng Việt, từ không biến đổi hình thái, không đòi hỏi sự đa dạng như các ngôn ngữ hòa kết.
– Việc sắp xếp các từ theo một trật tự nhất định là cách chủ yếu để biểu thị các quan hệ cú pháp trong câu. Trong phạm vi một câu, trật tự thuận là: chủ ngữ, vị ngữ.
– Sự phân biệt các từ đơn tiết và đa tiết căn cứ vào số lượng tiếng.

+ Chữ viết của tiếng Việt là thứ chữ ghi âm vị – một loại hình chữ viết tiên tiến nhất trên thế giới.

– Ghi ý là chữ viết cổ nhất của loài người., biểu thị nội dung ý nghĩa của một từ. Được hiển thị bằng một kí tự duy nhất, không liên quan đến âm thanh. Nhược điểm là chỉ biểu thị được một từ trọn vẹn. Còn chữ ghi âm là chữ biểu thị ý nghĩa âm thanh của từ qua hai bước phát triển: đầu tiên là chữ ghi âm tiết – kiểu chữ mà mỗi kí hiệu thể hiện một âm tiết trong từ. Ví dụ chữ Triều Tiên, chữ Nhật Bản hiện nay là chữ ghi âm tiết. So với chữ ghi ý, số lượng chữ ghi âm tiết ít hơn, tương đương với số lượng âm tiết trong ngôn ngữ. Tiếp theo là chữ ghi âm vị – gồm các con chữ trong từng đơn vị ngữ âm nhỏ nhất.

   Hiện nay, Việt Nam sử dụng chữ Quốc Ngữ – một hệ thống ghi âm vị dựa trên chữ cái Latin. Ngoài ra, bộ chữ Nôm cũng là thứ ngôn ngữ giúp phát triển tiếng Việt, giúp tiếng Việt trở nên đặc trưng hơn. Các nguyên tắc âm học được sử dụng trong tiếng Việt, kết hợp với chữ cái Latin giúp học tiếng Việt dễ dàng hơn.