• Vietnamese version
  • English version
  • Chinese version

DỊCH THƠ

                                                DỊCH THƠ

                             TỪ TIẾNG HÁN RA TIẾNG VIỆTVÀ DỊCH THƠ

                                         TỪ TIẾNG VIỆT RA TIẾNG HÁN

                                                         汉越诗词互译


 I. Bàn về Tống từ; dịch Tống từ, dịch thơ Đường và thơ lục bát từ tiếng Hán ra tiếng Việt:             

1. Tống từ và dịch Tống từ             

Từ là một loại thơ ca cổ của Trung Quốc. Theo Nguyễn Văn Chử thì Từ bắt nguồn từ Đời Lương, hình thành vào Đời Đường, và cực thịnh vào Đời Tống. Theo ghi chép của “ Cựu Đường Thư(旧唐书), t“Khai Nguyên ( niên hiệu Đường Huyền Tông), các ca sĩ đã lưu truyền (tạp dụng) các khúc ca trong các ngõ nhỏ Hồ Di”. Do âm nhạc được lưu truyền rộng rãi, tại các đô thị ở Trung Quốc thời bấy giờ có rất nhiều nhạc sư - đào kép mưu sinh bằng nghề ca hát, căn cứ vào nhu cầu phối hợp nhịp điệu giữa ca từ và âm nhạc, sáng tác hoặc cải biên thành các từ khúc có các câu dài ngắn khác nhau, đây chính là Từ sớm nhất. Từ trong bài Từ Đôn Hoàng khúc tử  có thể nhận thấy Từ được sáng tác trong dân gian có sớm hơn Từ dưới ngòi bút của văn nhân khoảng vài chục năm. 

Vào Đời Đường, Từ trong dân gian đại bộ phận là thuộc các đề tài phản ánh về tình yêu đôi lứa, cho nên nó không lọt vào con mắt “đại nhã” của các văn nhân, mà còn bị coi là “tiểu đạo ngoại thơ”. Chỉ có những người chú trọng giới thiệu những sở trường của nghệ thuật Từ dân gian như Bạch Cư Dị, Lưu Vũ Tích mới viết ra một số Từ có phong cách tự nhiên, tràn đầy khí chất chất phác về những tấm lòng nhân hậu của người dân lao động. Ôn Đình Quân và Ngũ Đại “Hoa gian phái” nổi tiếng nhờ những câu Từ tươi thắm, cao thượng, mang đậm phong cách phụ nữ dịu dàng, đôn hậu, chiếm một vị trí nhất định trong lịch sử phát triển của Từ. Các tác phẩm Từ sau khi Nam Đường Lý Hậu chủ bị bắt làm tù binh đã mở ra một ranh giới nghệ thuật sâu lắng mới, truyền luồng sinh khí mãnh liệt cho các Từ khách hậu thế.Đến Đời Tống, thông qua sự đột phá mạnh về mặt sáng tác của Liễu Vịnh và Tô Thức, Từ đã được phát triển mạnh cả về nội dung và hình thức. Cho dù về mặt ngôn ngữ Từ chịu ảnh hưởng về thi tác của các văn nhân, nhưng cái thời thượng gọt giũa tao nhã cũng không hề thay thế cho cái phong cách dân gian thông tục, mà hình thức câu ngắn câu dài của Từ lại rất dễ biểu lộ tình cảm, cho nên cách nói “ Thi manh chí, Từ trữ tình  (诗盲志 词抒情) là có những căn cứ nhất định.Từ về đại thể có thể chia ra thành Phái hàm súc và Phái khoáng đạt (Uyển ước phái và Hào phóng phái). Từ của Phái hàm súc có phong cách tao nhã uyển chuyển như Từ của Liễu Vịnh, Yên Thù,Yên Kỷ Đạo,... không thẹn là những kiệt tác trữ tình, đã diễn đạt hoà quyện được giữa cái tình và  cái cảnh. Những tác phẩm của Phái khoáng đạt thì bắt đầu  từ Tô Thức, ông đã đem Từ phát triển thành một mảng nghệ thuật trữ tình độc đáo (độc lập). Danh lam thắng cảnh của quê hương, đất nước, cuộc sống thanh bình, nhàn nhã hoặc chí lớn báo quốc của nhân dân qua ngòi bút của ông đều trở thành đề tài của Từ, làm cho Từ được bước trên những con đường đẹp, đi sâu vào cuộc sống của quảng đại quần chúng nhân dân. Từ về mặt hình thức có thể chia thành Tiểu lệnh (khoảng 58 chữ), Trung điệu (59-90 chữ) và Trường điệu (trên 91 chữ), Từ dài nhất có tới 240 chữ). Một bài Từ, có khi chỉ có 1 đoạn, gọi là đơn điệu; có khi có 2 đoạn, gọi là song điệu; có khi có 3 đoạn hoặc 4 đoạn gọi là tam điệu hoặc tứ điệu.    

                                                             

 

踏莎行 - 春暮Đạp sa hành - Xuân mộ (Âm Hán Việt)Số chữ
春色將闌,
鶯聲漸老。
紅英落盡青梅小。
畫堂人靜雨濛濛,
屏山半卷餘香嫋。
密約沈沈,
情杳杳。
菱花塵滿慵將照。
倚樓無語欲銷魂,
長空黯淡連芳草。
Xuân sắc tương lan,
Oanh thanh tiệm lão.
Hồng anh lạc tận thanh mai tiểu.
Hoạ đường nhân tĩnh vũ mông mông,
Bình sơn bán quyển dư hương niểu.

Mật ước trầm trầm,
Vô tình diểu diểu.
Lăng hoa trần mãn dung tương chiếu.
Ỷ lâu vô ngữ dục tiêu hồn,
Trường không ảm đạm liên phương thảo.
                               
4 chữ4 chữ7 chữ 7 chữ 7 chữ  4 chữ4 chữ7 chữ 7 chữ 7 chữ
              Dịch Từ của Khấu Chuẩn ra tiếng Việt:
Cuối xuânSố chữ
Xuân sắc hầu tàn,
Tiếng oanh dần lão.
Hồng hoa rụng hết thanh mai choắt.
Hoạ đường người lặng mịt mù mưa,
Bình sơn nửa khép hương hiu hắt.

Mật ước trầm trầm,
Vô tình biền biệt.
Lăng hoa (gương) đầy bụi lười soi mặt.
Tựa lầu lặng lẽ chực tiêu hồn,
Trời liền cỏ ngát đều xanh ngắt.
                                                                             Nguyễn Chí Viễn dịch
4 chữ4 chữ7 chữ 7 chữ 7 chữ  4 chữ4 chữ7 chữ 7 chữ 7 chữ  
- Lương Nam Xương  梁南昌 (New Zealand)
踏莎行Đạp sa hành (Âm Hán Việt)Số chữ
頻頻遠行,橫跨亚欧。 漫漫旅途看两洲观瞻天下兴与衰,繁荣冷落藏根由Tần tần viễn hành,Hoành khoa Á Âu.                                             Mạn mạn lữ đồ khán lưỡng châu. Quan chiêm thiên hạ hưng dữ thoái,Phồn vinh lãnh lạc tàng căn do.  4 chữ4 chữ7 chữ 7 chữ 7 chữ  
古今硕果,奋勉有道 知乃源必珍保 前程似锦多绚烂, 力争上游志不休                             Cổ kim thạc quả, Phấn miễn hữu đạo.Đắc tri nãi nguyên tất chân bảo.Tiền trình tự cẩm đa huyền lan,Lực tranh thượng du chí bất hưu. 4 chữ4 chữ7 chữ 7 chữ 7 chữ
                Dịch Từ của Lương Nam Xương ra tiếng Việt - dịch đúng số chữ, số câu :
Đạp sa hànhĐạp sa hànhSố chữ

Những chuyến đi xa ,Băng qua Âu, Á. Xuyên hai Châu ta đều thấy cả.Khắp thiên hạ thịnh suy  sướng  khổ, nguyên do tiềm ẩn bên trong.Quả ngọt xưa nay, Nào được trời ban. Cội nguồn quý phải gìn giữ lấy.Tương lai tựa gấm hoa sáng chói,Hãy vươn lên chớ có nản lòng.

Nguyễn Văn Chử dịch                                             

Những chuyến đi lâu,Từ Á sang Âu.Xuyên hai châu  tai nghe mắt thấy.Sướng khổ thịnh suy đâu cũng vậy,Do nguyên nhân bên trong thúc đẩy. Thành quả xưa nay,Nào ai ban tặng.Hiểu cội nguồn quý đặng ngọc châu.Có tương lai hạnh phúc sang giàu, Vươn lên gắng sức mới dài lâu. Trần Thị Thanh Liêm dịch (1)4 chữ4 chữ7 chữ 7 chữ 7 chữ  4 chữ4 chữ7 chữ 7 chữ 7 chữ  
               Dịch thoát khỏi sự ràng buộc của câu chữ: 
Những chuyến đi xaChuyến đi xa

Những chuyến đi dài ngày bươn trải, Xuyên Á Âu mê mải hăng say. Mênh mang rừng biển trời mây.Quan chiêm thiên hạ,dở hay cho tường.Khắp thành thị thôn hương đâu đó, Mọi sang hèn đều có nguyên nhân. Xưa nay có phúc có phần, Hoa thơm quả ngọt chuyên cần mới nên. Đổ công sức xây nền phú quý, Thấu ngọn nguồn giá ví ngọc châu. Tương lai cảnh sắc muôn màu,Lực còn tu chí dài lâu cho bền.              

Trần Thị Thanh Liêm dịch (2)

Chuyến đi dài ngày, Xuyên quanh Á Âu.Mênh mang đường khắp cả hai châu. Thịnh sang thiên hạ  muôn mầu, Tiêu điều phồn thịnh gót đầu đều có nguyên nhân. Xưa nay sự thành bại, Đổ mồ hôi không quản ngại, Mới gặt hái thành công. Thấu hiểu ngọn nguồn, Quý như trân châu ngọc bảo.Tốt đẹp tương lai đường trải gấm hoa. Gắng lên cố sức vươn xa, Đừng ham ngơi nghỉ ắt là thành công.                 

Trần Thị Thanh Liêm dịch (3)

  
Trên đườngChuyến đi xa

Bước bước dài lâu,Đi khắp Á Âu.Dằng dặc đường dài suốt hai Châu,Ngắm xem thế giới lùi hay tiến,Phồn thịnh, tiêu điều bởi tại đâu?Cành sai quả lớn,Nhờ công chăm bón,Biết cội nguồn phải giữ gìn hôm sớm.Tương lai nhìn tươi đẹp tựa gấm hoa,Gắng lên nào chớ nghỉ để vươn xa!                                                   

Đào Phong Lưu dịch

Những chuyến đi dằng dặc,Xuyên đất trời Á- Âu.Mênh mông nhìn khắp hai châu,Thấu hết luật hưng suy thiên hạ.Phồn vinh hay tiêu điều,Có căn do tất cả.Từ cổ chí kim, muốn cây đời trĩu quả,Phải chắt chiu từ bao nỗi nhọc nhằn.Hãy gìn giữ nâng niu khi đã tỏ ngọn nguồn,Đường tới tương lai tựa gấm hoa rực rỡ.Ý chí  vươn xa tới chân trời rộng mở,Không bao giờ một thoáng buông lơi.                             Nguyễn Hữu Thăng dịch

                                                    

  1) Thôi Hiệu 崔颢 (Trung Quốc    

黃鶴樓Hoàng Hạc lâu (Âm Hán Việt)
昔人已乘黃鶴去, 此地空餘黃鶴樓。 黃鶴一去不復返, 白雲千載空悠悠。 晴川歷歷漢陽樹, 芳草萋萋鸚鵡洲。 日暮鄉關何處是, 煙波江上使人愁。Tích nhân dĩ thừa hoàng hạc khứ, Thử địa không dư Hoàng Hạc Lâu. Hoàng hạc nhất khứ bất phục phản, Bạch vân thiên tải không du du. Tình xuyên lịch lịch Hán Dương thụ, Phương thảo thê thê Anh Vũ châu. Nhật mộ hương quan hà xứ thị, Yên ba giang thượng sử nhân sầu.
 
Dịch bài Hoàng Hạc Lâu ra tiếng Hán hiện đại 
                Dịch thơ Đường của Thôi Hiệu ra tiếng Việt:
Dịch nghĩaDịch thơ: Lầu Hoàng Hạc
Người xưa đã cưỡi hạc vàng bay đi, Nơi đây chỉ còn lại lầu Hoàng Hạc .Hạc vàng một khi bay đi đã không trở lại, Mây trắng ngàn năm vẫn phiêu diêu trên không. Mặt sông lúc trời tạnh, phản chiếu cây cối Hán Dương rõ mồn một, Cỏ thơm trên bãi Anh Vũ mơn mởn xanh tươi. Trời về chiều tối, tự hỏi quê nhà nơi đâu? Trên sông khói tỏa, sóng gợn, buồn đến nẫu lòng người.Người xưa cưỡi hạc khuất xa rồiĐây lầu Hoàng hạc đứng chơi vơiHạc vàng biền biệt liền muôn thủaMây trắng ngẩn ngơ mãi bầu trời Hán Dương sông tạnh cây soi bóngAnh Vũ bãi dài cỏ khoe tươiChiều xuống, hỏi đâu về quê mẹ?Hoa khói trên sông nẫu lòng người                Nguyễn Hữu Thăng dịch          
 
Lầu Hoàng HạcBố cục
1. Người xưa cưỡi hạc bay về đâu,2. Trở lại đất này cảnh hạc lâu.3. Hoàng hạc bay đi lang bạt xứ,4. Bạch vân đọng lại vẩn vơ màu. 5. Hán Dương cây cối soi gương nước,6. Anh Vũ bãi sa thảm cỏ lau.7. Trời lảng chiều, đâu quê quán nhỉ,8. Trên sông khói toả nỗi lòng đau.        Trần Thị Thanh Liêm dịch (1) 
Hai câu đề (1và 2)Vào đề trực tiếp.
Hai câu thực (3 và 4)Phải đối nhau.
Hai câu luận (5 và 6)Phải đối nhau.
Hai câu kết (7 và 8)Nói lên tâm tư, nỗi niềm của tác giả.
 
Lầu Hoàng HạcLầu Hoàng Hạc
Người xưa cưỡi hạc bay về đâu,Trở lại nơi đây chỉ Hạc lầu.Hạc vàng bằn bặt muôn niềm nhớ,Mây trắng vẩn vơ một nỗi sầu.  Hán Dương sông tạnh  lung linh bóng, Anh Vũ bãi xanh bát ngát màu.Hoàng hôn buông xuống, quê đâu nhỉ?Trên sông khói sóng quặn lòng đau.                  Trần Thị Thanh Liêm dịch (2) Cưỡi hạc người xưa bay đã lâu,Nơi đây còn lại hạc không lầu.Hạc vàng bay mất không quay lại,Mây trắng còn kia lảng vảng màu. Cây cối Hán Dương gương bóng nước,Bãi bồi Anh Vũ cỏ vờn lau.Trời chiều hỏi, đâu quê hương nhỉ,Khói toả trên sông nổi thảm sầu.                   Trần Thị Thanh Liêm dịch (3) 

          2) Vương Chi Hoán  王之奂 (Trung Quốc)       

   

Khi dịch thơ, có những câu hoặc những từ ngữ chóng ta còng cã thÓ tËn dông ©m  H¸n ViÖt ®Ó dÞch.  Sau đây là bài th¬ §­êng ca Vương Chi Hoán:

登鹳鹊楼Đăng Quán Tước lâu (Âm Hán Việt)
白日依山尽,黄河入海流欲穷千,更上一层楼Bạch nhật y sơn tận,Hoàng Hà nhập hải lưu.Dục cùng thiên lí mục,Cánh thượng nhất tầng lâu. 
             Dịch bài Đăng Quán Tước lâu ra tiếng Hán hiện đại
登鹳鹊楼译诗
太阳已经落下山头,黄河不停向大海奔流。 要想看到更远的景色,就要再登上一层高楼。
             Dịch thơ Đường của Vương Chi Hoán  ra tiếng Việt: 
Lên ngắm lầu Khổng TướcLên ngắm lầu Khổng Tước
Mặt trời lưng chừng núi,                   Hoàng Hà nhập hải lưu.                  Muốn nhìn xa ngàn dặm,                   
Lên nữa một tầng lầu. 
                 Trần Thi Thanh Liêm dịch (1)                                        
S«ng Hoµng ra biÓn lín,N¾ng trµn ngËp s­ên non.Muèn tÇm nh×n ngµn dÆm,Lªn tÇng lÇu cao h¬n.                           Nguyễn Hữu Thăng dịch
 
Lên ngắm lầu Khổng TướcLên ngắm lầu Khổng Tước
Mặt trời ngang sườn núi,                    Hoàng Hà cuộn chảy mau.                  Muốn nhìn muôn ngàn dặm,                   
Lên tầng lầu nữa chơi. 
                Trần Thi Thanh Liêm dịch (2)                                      
Mặt trời nghiêng sườn núi,
Hoàng Hà đổ về khơi.
Muốn ngắm muôn cảnh đẹp,
Lên tầng nữa hỡi ai.    
                            Nguyễn Văn Chử dịch                  
                    
Lên ngắm lầu Khổng TướcLên ngắm lầu Khổng Tước
N¾ng vµng b¸t ng¸t nói ®åi,Hoµng Hµ vÒ víi biÓn trời bao la.Muèn tÇm ngµn dÆm nh×n xa,Lªn cao cao n÷a tÇng nhµ, hìi ai!                          Nguyễn Hữu Thăng dịch  Sườn non chói nắng phơi, Hoàng Hà chảy ra khơi.  Muốn ngắm xa ngàn dặm, Phải lên tầng nữa thôi!                                Đào Phong Lưu dịch 

                      3) Thái Thuận (Việt Nam)

 

春暮Xuân mộ (Âm Hán Việt)
百年身世嘆浮苹,春去誰能不老成流水橋邊楊柳影,夕陽江上鷓鴣          月於煙樹雖無分,風與天香尚有九十韶光容易過,草心游子苦難平Bách niên thân thế thán phù bình,Xuân khứ thùy năng bất lão thành.Lưu thủy kiều biên dương liễu ảnh,Tịch dương giang thượng giá cô thanh. Nguyệt ư yên thụ tuy vô phận,Phong dữ thiên hương thượng hữu tình.                         Cửu thập thiều quang dung dị quá,Thảo tâm du tử khổ nan bình.         
                          -  Dịch thơ Đường của Thái Thuận (Việt Nam) ra tiếng Việt:
Chiều xuân (Dịch nghĩa)Chiều xuân
Thân thế trăm năm than cho kiếp bèo nổi,Xuân đi rồi có ai không thành người già.Bên cầu nước chảy in bóng dương liễu,Trên sông chiều tà tiếng chim le le  não nuột.Trăng lồng trong khói cây tuy không có phận gì,Gió quyện hương trời vẫn có tình với nhau.Chín chục tuổi xuân qua một cách dễ dàng,Khiến nỗi lòng người con đi xa khó bình lặng được.    Thân thế trăm năm kiếp bèo trôi,Xuân qua ai tránh khỏi cuối đời.Bên cầu nước chảy ngời bóng liễu ,Dưới bến le kêu não lòng người. Trăng dẫu hững hờ lồng tán lá, Gió còn xao xuyến quyện hương trời. Thấm thoắt thiều quang đà chín chục,Day dứt cõi lòng mãi khôn nguôi.                           Nguyễn Hữu Thăng dịch
 
Chiều xuânChiều xuân
Trăm năm chìm nổi phận bọt bèo, Xuân qua tuổi tác cũng già theo.  Bên cầu nước chảy lồng bóng liễu,  Dưới bến cuốc kêu sạm ánh chiều.  Trăng vẫn thờ ơ vờn bóng lá,  Gió cứ hữu tình cợt hương mây.Bóng thiều thoắt đã ngoài chín chục,Thổn thức cõi lòng kẻ viễn phương                              Đào Phong Lưu dịch Muôn kiếp lênh đênh phận bọt bèo,Xuân đi người luống tuổi già theo.Dưới cầu nước chảy lay hình liễu,Trên sông le kêu lảng bóng chiều. Màn khói trăng buông trăng chểnh mảng,Làn hương gió quyện gió buông gieo.Thiều quang chín chục trôi thanh thoát,Uẩn khúc tâm tư lắng đọng nhiều.                         Trần Thị Thanh Liêm dịch 
           

        III. Kết luận:             

Chúng tôi xin mưn ý kiến ca mt dch gi ni tiếng - Thuý Toàn làm phn kết cho bn báo cáo này: DÞch lµ mét nghÖ thuËt. Ng­ưi dÞch tr­ưc hÕt ph¶i lµ ng­ưêi ®i t×m c¸i ®Ñp. Còng gièng như ­ng­ưêi  s¸ng t¸c ®i t×m c¸i ®Ñp ë cuéc ®êi ®Ó t¹o nªn t¸c phÈm, ng­ưêi dÞch t×m c¸i ®Ñp trong t¸c phÈm ®· s½n cã ë mét ng«n ng÷ nµo ®ã, t¸i t¹o ra b¶n dÞch, tøc lµ lµm ra mét t¸c phÈm míi ë mét ng«n ng÷ mÑ ®Î hoÆc mét ng«n ng÷ thø hai. C¸i ®Ñp trong cuéc ®êi cã thµnh t¸c phÈm v¨n chư­¬ng hay kh«ng ph¶i nhê tµi cña ngư­êi cÇm bót s¸ng t¸c. C¸i ®Ñp t×m thÊy ë t¸c phÈm ®· cã s½n cã trë thµnh c¸i ®Ñp trong b¶n dÞch hay kh«ng còng l¹i ph¶i nhê c¸i tµi cña ngư­êi dÞch. VÝ ngư­êi dÞch nh­ư ngưi thî kim hoµn biÕn ®¸ quÆng thµnh ®å trang søc léng lÉy? C«ng viÖc dÞch cã khi cßn khã h¬n kia - ë ®©y lµ c«ng viÖc t¸i t¹o mét t¸c phÈm ®· cã s½n thµnh t¸c phÈm b»ng mét chÊt liÖu kh¸c h¬n. VÝ ngư­êi dÞch víi ng­ưêi diÔn viªn thÓ hiÖn vai diÔn viÕt trong kÞch b¶n cã lÏ lµ s¸t h¬n ch¨ng?                                                                   

Tµi liÖu tham kh¶o(1) NguyÔn Tµi CÈn. Nguån gèc vµ qu¸ tr×nh h×nh thµnh c¸ch ®äc H¸n-ViÖt. Nhà xuất bản (NXB) §¹i häc Quèc gia Hµ Néi. 1979.         (2) TrÇn Thanh Liªm. Vµi ý kiÕn vÒ viÖc häc dÞch tiÕng H¸n. T¹p chÝ Khoa tiÕng Trung Quèc kû niÖm 40 n¨m thµnh lËp Tr­êng §HNN Hµ Néi 1959-1999(3) TrÇn ThÞ Thanh Liªm. Mét vµi ý kiÕn về việc dạy tiếng Hán cho người Việt (trang 58,59,60). T¹p chÝ Ng«n ng÷.  Sè 3 (1990).(4) TrÇn ThÞ Thanh Liªm. Mét vµi ý kiÕn vÒ viÖc hiểu đúng dịch đúng. Néi san ngo¹i ng÷ - §¹i häc Ngo¹i ng÷ Hµ Néi. 1998.

§Þa chØ liªn l¹c của tác giả- ThS. TrÇn ThÞ Thanh Liªm (陈氏清廉 硕士联络地址)

Nhà ở: Số 14, Ngâ A10, TËp thÓ §i hc Hµ Néi, Km9, Đường Nguyễn Trãi,Thanh         Xu©n B¾c, Thanh Xu©n, Hµ Néi

§iện thoại : (04) 38 542 604,  0987 641 698         Fax: (04) 38 542 604

Email: Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó ; Địa chỉ email này đang được bảo vệ khỏi chương trình thư rác, bạn cần bật Javascript để xem nó

Website §¹i häc §¹i Nam:  www.dainam.edu.vn



*THS. PCN Khoa Ngoại ngữ, Trưởng Ngành tiếng Hoa Trường Đại học Đại Nam Hà Nội – 河内大南大学外语系副主任汉语教研室主任陈氏清廉 硕士 
 
< Trước   Tiếp >

Live support

HACO tham gia 1000 năm Thăng Long

Chuyên đề dịch thuật

 

bài học tiếng Việt
bài học tiếng Việt

Truy cập

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter

Trụ sở chính Tại Hà Nội

Đc: 36 Ngụy Như Kon Tum, Trung Hòa Nhân Chính, Thanh Xuân, Nội

Đt: 04-35543604 / 04-35543915 : 0983.820.5200982.045.522

Email: Hanoi@dichthuathaco.com.vn